logo

Chấm dứt hợp đồng lao động đúng luật có khó?

Ngày đăng: 30/11/2020
Với Bộ Luật Lao động năm 2019, dù ký loại hợp đồng lao động nào thì người lao động không cần lý do chính đáng cũng có thể đơn phương chấm dứt hợp đồng nếu đã báo trước đúng thời hạn

Dưới đây là các cách chấm dứt hợp đồng lao động (HĐLĐ) đúng luật mà người lao động nên biết để bảo vệ được các quyền lợi chính đáng của mình.

Dễ dàng chấm dứt HĐLĐ từ năm 2021

Từ ngày 1-1-2021, Bộ Luật Lao động (BLLĐ) năm 2019 sẽ chính thức có hiệu lực. Theo đó, người lao động có thể chấm dứt HĐLĐ dễ dàng hơn so với quy định tại BLLĐ năm 2012. Cụ thể, người lao động có thể chấm dứt hợp đồng theo một trong các cách sau:

Thỏa thuận chấm dứt HĐLĐ với người sử dụng lao động

Do HĐLĐ được ký kết trên cơ sở thỏa thuận giữa người lao động và người sử dụng lao động nên pháp luật cũng tôn trọng quyền của các bên trong việc chấm dứt hợp đồng.

Chấm dứt hợp đồng đúng luật có khó? - Ảnh 1.

Từ năm 2021, người lao động không được trả đủ lương hoặc trả lương không đúng hạn sẽ được quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng

Căn cứ khoản 3, Điều 34 BLLĐ năm 2019, người lao động và người sử dụng lao động hoàn toàn có quyền thỏa thuận về việc chấm dứt HĐLĐ. Đây được xem là phương án "đẹp lòng" cả đôi bên. Nếu hai bên thống nhất được với nhau về việc chấm dứt hợp đồng thì đó là cách tốt nhất.

Theo cách này, người lao động vừa có thể chấm dứt hợp đồng theo đúng ý muốn, vừa đảm bảo được các quyền lợi chính đáng của mình. Đồng thời người sử dụng lao động cũng vui vẻ với sự ra đi này của người lao động.

Đơn phương chấm dứt HĐLĐ

Nếu không tìm được tiếng nói chung với người sử dụng lao động, người lao động có thể chọn cách đơn phương chấm dứt HĐLĐ. Tuy nhiên, để đảm bảo quyền lợi cho mình, người lao động cần tuân thủ các quy định về quyền đơn phương chấm dứt HĐLĐ hợp pháp được quy định tại Điều 35 BLLĐ năm 2019:

- Người lao động có thể nghỉ việc ngay mà không cần báo trước trong một số trường hợp. Khoản 2, Điều 35 BLLĐ 2019 quy định, người lao động có quyền đơn phương chấm dứt HĐLĐ không cần báo trước trong trường hợp sau:

Không được bố trí theo đúng công việc, địa điểm làm việc hoặc không được bảo đảm điều kiện làm việc đã thỏa thuận, trừ trường hợp khác; Không được trả đủ lương hoặc trả lương không đúng hạn, trừ trường hợp khác; Bị người sử dụng lao động ngược đãi, đánh đập hoặc có lời nói, hành vi nhục mạ, hành vi làm ảnh hưởng đến sức khỏe, nhân phẩm, danh dự; bị cưỡng bức lao động; Bị quấy rối tình dục tại nơi làm việc; Lao động nữ mang thai phải nghỉ việc vì công việc có ảnh hưởng xấu tới thai nhi; Đủ tuổi nghỉ hưu, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác; Người sử dụng lao động cung cấp thông tin không trung thực làm ảnh hưởng đến việc thực hiện HĐLĐ.

Như vậy, nếu thuộc một trong các trường hợp nêu trên, người lao động có thể nghỉ việc ngay mà không cần báo trước cho người sử dụng lao động biết. Đây là quy định hoàn toàn mới của BLLĐ 2019, trong khi, BLLĐ năm 2012 luôn yêu người lao động khi đơn phương chấm dứt HĐLĐ phải đảm bảo thời gian báo trước.

- Không thuộc trường hợp trên, người lao động khi đơn phương chấm dứt HĐLĐ phải đảm bảo thời báo trước. Theo khoản 1, Điều 35 BLLĐ 2019, người lao động đơn phương chấm dứt HĐLĐ phải báo trước cho ít nhất: Ít nhất 45 ngày với HĐLĐ không xác định thời hạn; Ít nhất 30 ngày với HĐLĐ có thời hạn từ 12 - 36 tháng; Ít nhất 3 ngày làm việc với HĐLĐ dưới 12 tháng.

Với quy định này, người lao động chỉ cần báo trước cho người sử dụng lao động theo thời gian nêu trên là đã đảm bảo đủ điều kiện để đơn phương chấm dứt HĐLĐ hợp pháp. Có nhiều cách để người lao động có thể thông báo đến người sử dụng lao động về việc nghỉ làm đó là trực tiếp bằng lời nói, viết đơn xin nghỉ việc , email xin nghỉ việc ,…

Như vậy, với BLLĐ năm 2019, dù ký loại HĐLĐ nào thì người lao động không cần lý do chính đáng cũng có thể đơn phương chấm dứt hợp đồng nếu đã báo trước đúng thời hạn.

Trong khi đó, theo Điều 37 BLLĐ 2012, chỉ có người lao động làm việc theo HĐLĐ không xác định thời hạn mới được đơn phương chấm dứt hợp đồng không cần lý do nêu tại khoản 1 như: Không được bố trí theo đúng công việc, không được trả lương đầy đủ, bị ngược đãi, quấy rối tình dục,….

Chấm dứt hợp đồng trái luật sẽ mất quyền lợi

Theo Điều 40 BLLĐ năm 2019, người lao động khi chấm hợp đồng trái luật sẽ bị mất những quyền lợi sau: Không được chi trả trợ cấp thôi việc.

Chấm dứt hợp đồng đúng luật có khó? - Ảnh 2.

Người lao động khi chấm hợp đồng trái luật, sẽ không được chi trả trợ cấp thôi việc

Nếu chấm dứt HĐLĐ đúng luật, người lao động sẽ được người sử dụng lao động thanh toán tiền trợ cấp thôi việc theo Điều 46 BLLĐ 2019 nếu đã làm việc thường xuyên từ đủ 12 tháng trở lên, trừ trường hợp người lao động đủ tuổi về hưu. Với mỗi năm làm việc, người lao động được hưởng nửa tháng tiền lương.

Như vậy, người lao động nếu không muốn mất khoản tiền này thì phải thực hiện theo các cách chấm dứt hợp đồng đúng luật mà bài viết đề cập ở trên.

Phải bồi thường cho người sử dụng lao động

Việc người lao động chấm dứt HĐLĐ phần nào gây ảnh hưởng đến việc sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp. Do đó, nếu đơn phương phương chấm dứt HĐLĐ trái luật, người lao động sẽ phải bồi thường: Nửa tháng tiền lương; Khoản tiền tương ứng với tiền lương trong những ngày không báo trước (nếu vi phạm quy định về thời gian báo trước).

Hoàn trả chi phí đào tạo

Trong quá trình làm việc, người lao động có thể được cử tham gia đào tạo, nâng cao trình độ, kỹ năng nghề ở trong nước hoặc nước ngoài trên kinh phí của người sử dụng lao động. Vì vậy, nếu người lao động chấm dứt hợp đồng trái luật sẽ phải hoàn trả lại số tiền này cho người sử dụng lao động.

(Theo Người Lao động)

Kích thước font In ấn

Bình luận chia sẻ

Tư vấn luật lao động
1
https://www.voatiengviet.com/

NGHIỆP ĐOÀN ĐỘC LẬP VIỆT NAM (VIU) 

Tổ chức phi chính trị và bất vụ lợi, được sáng lập từ nhu cầu thực tiễn và theo đuổi sứ mệnh bảo vệ quyền lợi chính đáng của người lao động Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế. Tôn chỉ hoạt động của nghiệp đoàn là Đoàn kết - Tương trợ - Phát triển 

Kết nối với chúng tôi